English  Vietnamese 


 

 
Chuyên mục kiến thức
 

 

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG GIẢM ĐAU CỦA LIỀU THẤP BUPIVACAIN TRONG GÂY TÊ TUỶ SỐNG ĐỂ MỔ TẦNG SINH MÔN VÀ CHI DƯỚI
(Tin ngày 18-01-2007)

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG GIẢM ĐAU CỦA LIỀU THẤP BUPIVACAIN TRONG GÂY TÊ TUỶ SỐNG ĐỂ MỔ TẦNG SINH MÔN VÀ CHI DƯỚI

Bùi Thị Hương, Hồ Khả Cảnh, Trần Thị Thu Lành

 TÓM TẮT

Nghiên cứu thực hiện trên 57 bệnh nhân tuổi trung bình 42,07 ± 14,32 tuổi, có tình trạng sức khoẻ xếp theo nhóm ASA I,II được chỉ định phẫu thuật ở vùng tầng sinh môn tại khoa Gây mê hồi sức cấp cứu, Bệnh viện trường Đại học Y Huế từ 03/2004- 03/2005. Với các mục tiêu: (1)Đánh giá mức độ giảm đau và ức chế vận động của liều thấp Bupivacain 0,5% liều 5mg, sau gây tê tuỷ sống cho các phẫu thuật ở vùng tầng sinh môn; (2)Đánh giá ảnh hưởng trên huyết động sau gây tê tuỷ sống của liều thấp bupivacaine 0,5% liều 5mg cho các phẫu thuật ở vùng tầng sinh môn. Sau khi đã giải thích và bệnh nhân chấp nhận, chúng tôi tiến hành gây tê tuỷ sống với Bupivacain 0,5% liều 5mg. Chúng tôi theo dõi và đánh giá tác dụng ức chế cảm giác đau, ức chế vận động và ảnh hưởng lên huyết động sau gây tê. Kết quả: Thời gian xuất hiện giảm đau ở mức T12 là 12,65 ± 3,99 phút. Thời gian giảm đau sau gây tê từ mức T12 trở xuống là 102,23 ± 15,43 phút. Mức độ giảm đau trong mổ được đánh giá dựa theo thang điểm Abouleizh cho kết quả tốt 98,25%. Mức độ phong bế vận động được đánh giá dựa theo thang điểm Bromage cho kết quả: 91,23% bệnh nhân không liệt (M0), 8,77% bệnh nhân liệt ở mức độ nhẹ (M1), không có bệnh nhân nào liệt ở mức độ M2, M3. Gây tê tuỷ sống liều thấp bupivacain 0,5% (5mg), ghi nhận trong quá trình phẫu thuật luôn duy trì huyết động ổn định, số lượng dịch truyền trong mổ ít (329,82 ± 123,15ml), không có trường hợp nào phải dùng ephedrin để nâng huyết áp. Kết luận: (1)Gây tê tuỷ sống với Bupivacain 0,5% liều 5mg đảm bảo vô cảm tốt cho phẫu thuật các bệnh lý ở vùng tầng sinh môn; (2)Gây tê tuỷ sống với Bupivacain 0,5% liều 5mg hạn chế ức chế vận động, tạo điều kiện tốt phục hồi vận động sớm sau phẫu thuật; (3)Gây tê tuỷ sống với Bupivacain 0,5% liều 5mg duy trì được huyết động ổn định.

SUMMARY

Small-dose of hyperbaric 0,5% Bupivacaine in spinal anaethesia

for the surgery on the perineum and lower extremities

Purpose: To determine the sensory, motor and hemodynamic effects of small dose of hyperbaric 0,5% Bupivacaine in spinal anaesthesia for the operation on the perineum and lower limbs. Material and Methods: The prospective clinical study has been done on 57 patients undergoing the surgery on the perineum and lower limbs. These patiens received 1ml of hyperbaric 0,5% bupivacaine for spinal anaesthesia. We evaluated the onset and highest dermatomal level of sensory block, motor block, quantity of anaethesia, hemodynamic profile. Results: The highest level of sensory block is at T12. The onset time of sensory block at T12 is 12,64 + 3,49 min. Recovery time of sensory block is 102,23 min. No case failed to provide acceptable surgical anaethesia. Motor block of the lower extremities at level M0 and M1 occurred in 52 patients (91,23%), and 5 patients (8,77%), respectively. We observed a hemodynamic stablity during the operations. Conlusions: Small dose of hyperbaric 0,5% bupivacaine provide reliable anaesthesia for surgery on the perineum and lower extremities and limit to use the number of anesthetic agent.

 1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Gây tê tủy sống (GTTS) là một kỹ thuật vô cảm được thực hiện bằng cách đưa thuốc tê vào khoang dưới nhện. Ở đây thuốc sẽ được hòa lẫn vào dịch não tủy (DNT) ngấm trực tiếp vào các tổ chức thần kinh ức chế tạm thời đường dẫn truyền hướng tâm, dẫn truyền ly tâm và thần kinh thực vật ngang đốt sống tuỷ mà nó chi phối.

            August Bier là người đầu tiên đã áp dụng GTTS trên người để mổ chi dưới và đạt kết quả tốt. Từ đó đến nay, GTTS được sử dụng rộng rãi cho các phẫu thuật ở tầng dưới ổ bụng, đáy chậu và hai chi dưới.

            Nhờ sự nghiên cứu của các nhà khoa học người ta đã tìm ra các loại thuốc tê khác nhau ngày càng hoàn thiện hơn về mặt dược động học và dược lực học. Bupivacain 0.5% tỉ trọng cao là  thuốc tê tại chỗ thuộc nhóm amide, có thời gian tác dụng kéo dài, giảm đau tốt và hiện đang được sử dụng nhiều trong GTTS.

            Tuy nhiên khi GTTS với Bupivacain 0.5% liều cao sẽ phong bế thần kinh giao cảm gây rối loạn huyết động, đặc biệt ở bệnh nhân lớn tuổi. GTTS với Bupivacain liều thấp ít gây các biến loạn trên. Đây là phương pháp gây tê có kỹ thuật đơn giản, hiệu quả giảm đau tốt, ít gây rối loạn huyết động và có thể sử dụng ở những bệnh nhân có bệnh lý tim mạch kèm theo.

            Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu:

            1. Đánh giá mức độ giảm đau và ức chế vận động của liều thấp Bupivacain sau gây tê tuỷ sống cho các phẫu thuật vùng tầng sinh môn.

            2. Đánh giá ảnh hưởng trên huyết động sau gây tê tuỷ sống của liều thấp bupivacaine cho các phẫu thuật vùng tầng sinh môn.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu:

2.1.1. Đối tượng        

Các bệnh nhân từ 15 tuổi trở lên có tình trạng sức khoẻ ASA I, II theo phân độ của Hội các nhà gây mê Thế giới, được chỉ định phẫu thuật vùng tầng sinh môn và chi dưới với các chẩn đoán như: Dò hậu môn, trĩ, rách tầng sinh môn v.v... có thể có các bệnh lý kèm theo như: cao huyết áp, thiếu máu cơ tim, hen phế quản.

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

            Công trình được thực hiện tại Khoa Gây Mê Hồi sức Bệnh viện Trường đại học Y Huế, thời gian từ tháng 3 năm 2004 đến tháng 3 năm 2005.

   2.2. Phương tiện nghiên cứu

- Phương tiện gây tê:  Hộp dụng cụ gây tê, săng lỗ, các dụng cụ sát khuẩn, bơm tiêm 5ml, kim gây tê Spinocanâ cở 27G của hãng B-Braun, thuốc tê Bupivacain hydrochloride 0.5% tỉ trọng cao (Marcainâ Heavy của hãng AstraZeneca AB, Thuỵ điển)

- Các phương tiện theo dõi huyết động: Monitor Hewllett Packard: Theo dõi nhịp tim, huyết áp động mạch, bão hoà oxy (SpO2), tần số hô hấp, tự động liên tục 5 phút/lần.

2.3. Phương pháp nghiên cứu:

2.3.1. Chọn bệnh: Nghiên cứu tiền cứu trên 57 bệnh nhân với tiêu chuẩn lựa chọn như phần đối tượng

2.3.2. Các bước tiến hành:

Bệnh nhân được đặt catheter cở 18G ở tĩnh mạch ngoại biên và truyền dung dịch tinh thể: Nước muối sinh lý 0,9% hoặc Ringer lactate với số lượng 500ml.

Đặt bệnh nhân nằm nghiêng, sát trùng da và chọc tuỷ sống bằng kim gây tê Spinocanâ cở 27G của hãng B-Braun ở khoảng gian đốt sống thắt lưng L3-4. Sau khi thấy dịch não tuỷ chảy ra quay mũi vát kim tuỷ sống về phía xương cùng cụt, bơm thuốc tê Bupivacain hydrochloride 0.5% tỉ trọng cao (Marcainâ Heavy của hãng Astra Zeneca AB, Thuỵ điển) liều 5mg (1ml) cho tất cả bệnh nhân không phụ thuộc vào chiều cao hay trọng lượng cơ thể. Sau khi gây tê xong, đặt bệnh nhân trở về tư thế nằm ngữa ngay.

2.3.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu:

2.3.3.1.Đánh giá tác dụng ức chế cảm giác đau:

Đánh giá cảm giác đau theo phương pháp Pin-prick: Dùng kim 22 đầu tù để châm trên da và hỏi bệnh nhân cảm giác nhận biết đau, so sánh với kích thích tương tự trên vai phải.

- Thời gian bắt đầu mất cảm giác đau: Là thời gian tính từ khi bơm thuốc tê vào khoang dưới nhện đến khi bệnh nhân mất cảm giác đau.

- Đánh giá vùng chi phối mất cảm giác:

+ T10: Mất cảm giác đau từ rốn trở xuống.

+ T12: Mất cảm giác đau từ nếp bẹn trở xuống.

- Thời gian giảm đau hoàn toàn: Là thời gian từ khi mất cảm giác đau đến khi cảm giác đau xuất hiện trở lại.

- Mức độ giảm đau trong mổ: Đánh giá mức độ giảm đau trong mổ bằng cách dựa vào thang điểm Abouleizh và được chia làm 3 mức:

+ Tốt: Bệnh nhân hoàn toàn không đau, không cần thêm thuốc giảm đau.

+ Trung bình: Bệnh nhân đau nhẹ, phải dùng thêm thuốc giảm đau hoặc thuốc an thần.

+ Kém: Bệnh nhân đau nhiều, dùng thêm thuốc giảm đau không hiệu quả và phải chuyển sang phương pháp vô cảm khác: mê tĩnh mạch hoặc mê nội khí quản.

2.3.3.2. Đánh giá tác dụng ức chế vận động:

Đánh giá tác dụng ức chế vân động bằng cách sử dụng thang điểm của Bromage:

- M0: Không liệt.

- M1: Không nhấc được chân duỗi thẳng lên khỏi mặt bàn, tương ứng với 25% chức năng vận động bị phong bế.

            - M2: Không co được khớp gối nhưng vẫn cử động được bàn chân, tương ứng với 50% chức năng  vận động bị phong bế.

            - M3: Không gấp được bàn chân và ngón cái, tương ứng với mức phong bế vận động đạt được 75% trở lên.

2.3.3.3. Các tham số nghiên cứu về huyết động: Huyết áp động mạch tâm thu, tâm trương, huyết áp trung bình, mạch, tần số tim.

            Các tham số này được theo dõi ở các thời điểm:

            - T0: trước khi gây tê.

            - T5: sau khi gây tê 5 phút.

- T10: sau khi gây tê 10 phút.

- T15: sau khi gây tê 15 phút.

- T30: sau khi gây tê 30 phút.

- T60: sau khi gây tê 60 phút.

- T120: sau khi gây tê 120 phút.

            - Tiêu chuẩn đánh giá tụt huyết áp: Huyết áp tối đa giảm ³ 20% so với huyết áp tối đa của bệnh nhân trước gây tê. Nếu huyết áp tối đa giảm  ³ 20% so với huyết áp tối đa ban đầu thì dùng ephedrin để nâng huyết áp.

            - Kết quả các tham số nghiên cứu tính trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định so sánh trung bình các cặp tham số theo các thời điểm nghiên cứu với độ tin cậy 95% bằng nghiệm pháp T Test. 

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Giá trị trung bình của tuổi, chiều cao và cân nặng 

Tham số Trung bình N
Giới tính Nam Nữ  
40 17  
Tuổi (năm) 42,07 ± 14,32 57
Chiều cao (cm) 161,94 ± 6,07  
Cân nặng (kg) 55,90 ± 8,56  

 

Nhận xét: Tuổi trung bình của nhóm nhiên cứu tập trung giữa 30–50 tuổi.

3.2. Kết quả thống kê nhóm bệnh nghiên cứu

Bảng 2: Thống kê căn bệnh chỉ định phẫu thuật được gây tê tuỷ sống liều thấp

 

Căn bệnh

Số lượng

Trỉ

46

Dò hậu môn

5

Sa trực tràng

2

Rách tầng sinh môn cũ

2

U dây thần kinh mác nông

1

Gãy mắc cá trong chân phải

1

Tổng cộng

57

 

Nhận xét:  Phần lớn bệnh lý chỉ định phẫu thuật trong nhóm nghiên cứu tập trung chủ yếu ở vùng tầng sinh môn, nhiều nhất là trĩ.

Bảng 3: Các bệnh lý kèm theo 

Bệnh kèm

Số lượng

Cao huyết áp

6

Cao huyết áp và thiếu máu cơ tim phải

1

Hở van hai lá và thiếu máu cơ tim phải

2

Hở van hai lá và block cành phải hoàn toàn

1

Nhịp chậm xoang

1

Hen phế quản

1

Tổng cộng

12

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhận xét: Các bệnh lý kèm theo trong nhóm nghiên cứu chủ yếu là bệnh tim mạch và bệnh hô hấp.

3.3. Kết quả đánh giá tác dụng giảm đau sau gây tê

 

 

Bảng 4: Thời gian xuất hiện và tác dụng giảm đau từ mức T12

                                                    Giá trị

Thời gian

Trung bình

N

Thời gian xuất hiện giảm đau từ mức T12

12,64 ± 3,99

57

Thời gian giảm đau từ mức T12 trở xuống

102,23  ± 15,43

Thời gian phẫu thuật trung bình

47,7193 ± 14,88

 

 

Nhận xét: Khởi phát tác dụng giảm đau từ mức T12 trung bình 12phút. Thời gian tác dụng giảm đau trong phẫu thuật từ mứcT12  ≥ 100phút. Thời gian tác dụng giảm đau lâu hơn thời gian phẫu thuật

Bảng 5: Đánh giá mức độ giảm đau trong mổ

Mức độ giảm đau

Số lượng bệnh nhân

Tỉ lệ (%)

Tốt

56

98,25

Trung bình

1

2,75

Kém

0

0

Tổng cộng

57

100

 

Nhận xét: Dựa theo thang điểm Abouleizh mức độ giảm đau trong mổ cho kết quả tốt chiếm đa số, không có trường hợp nào giảm đau kém

3.4. Kết quả đánh giá ức chế vận động sau gây tê

Bảng 6: Đánh giá mức độ liệt vận động

Mức độ liệt vận động

Số lượng bệnh nhân

Tỉ lệ (%)

M0

52

91,23

M1

5

8,77

M2

0

0

M3

0

0

Tổng cộng

57

100

 

Nhận xét: Dựa theo thang điểm Bromage: Tất cả bệnh nhân không liệt hoặc liệt mức độ nhẹ M1. Không có trường hợp nào liệt ở mức M2, M3.

3.5. Kết quả các chỉ tiêu về huyết động

 

Biểu đồ 1. Giá trị trung bình tần số tim ở các thời điểm nghiên cứu

 

Bảng 7: Kết quả giá trị trung bình các tham số huyết động

 

                 Thời điểm

 

Tham số

T0

T5

T10

T15

T30

T60

T120

TST (L/phút)

78,31

± 11,51

76,75

±12,56

76,10

±12,86

74,19

±12,45

71,12

±10,37

71,17

±10,05

70,64

±9,94

HATT (mmHg)

129,19

±14,97

128,01 ±16,41

127,50

±15,31

126,21

±15,41

124,45

±13,56

125,08±15,07

124,29±14,47

HATB (mmHg)

96,82

±13,39

96,01

±13,64

95,80

±12,42

95,33

±12,14

93,28

±11,23

93,80

±11,80

93,71

±11,31

HATTR (mmHg)

81,73

±10,83

81,31

±12,10

80,92

±11,28

80,91

±11,32

79,42

±10,10

80,12

±10,44

80,15

±9,97

 

Nhận xét: Tần số tim và huyết áp duy trì tương đối ổn định sau thời gian gây tê 2 giờ.

Bảng 8: So sánh cặp trung bình các tham số huyết động

 

         Thời điểm

 

Tham số

T0-T5

T5-T10

T10-T15

T15-T30

T30-T60

T60-T120

TST (L/phút)

P= 0,07

>0,05

P=0,29

>0,05

P=0,00

<0,05

P=0,00

<0,05

P=0,92

>0,05

P=0,11

>0,05

HATT (mmHg)

P=0,42

>0,05

P=0,58

>0,05

P=0,11

>0,05

P = 0,59

>0,05

P=0,44

>0,05

P=0,08

>0,05

HATB (mmHg)

P=0,56

>0,05

P=0,83

>0,05

P=0,51

>0,05

P =  0,05

P=0,29

>0,05

P=0,78

>0,05

HATTR (mmHg)

P=0,73

>0,05

P=0,68

>0,05

P=0,98

>0,05

P = 0,05

P=0,17

>0,05

P=0,92

>0,05

 

Nhận xét: Kết quả so sánh cặp tham số tần số tim ở thời điểm T10-T15 và T15-T30 thay đổi (theo hướng giảm xuống) có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Các cặp tham số huyết áp động mạch ở các thời điểm nghiên cứu thay đổi không có ý nghĩa thống kê.

Biểu đồ 2. Giá trị trung bình tham số HATT ở các thời điểm nghiên cứu

 

Biểu đồ 3. Giá trị trung bình tham số HATB các thời điểm nghiên cứu

 

Biểu đồ 4. Giá trị trung bình tham số HATTR các thời điểm nghiên cứu

 

Bảng 9: Số lượng dịch truyền trong mổ

                                    Giá trị

Thể tích (ml)

Trung bình

N

Dung dịch tinh thể

329,82 ± 123,15

57

 

4. BÀN LUẬN

4.1. Về tác dụng giảm đau của bupivacain liều thấp trong GTTS để phẫu thuật vùng tầng sinh môn và chi dưới

4.1.1. Về tác dụng ức chế cảm giác đau

Theo lý thuyết khi gây tê tuỷ sống bằng bupivacain, thuốc tác dụng chủ yếu lên các rễ thần kinh, một phần nhỏ tác dụng lên bề mặt tuỷ sống. Bupivacain gắn lên màng các sợi thần kinh, ức chế có hồi phục các kênh natri, ngăn sự di chuyển của natri qua màng, làm giảm khử cực của màng và ngăn chặn sự lan truyền của điện thế hoạt động, do vậy ức chế dẫn truyền xung động thần kinh, mức độ tác dụng giảm đau, ức chế vận động và tác dụng phụ (gây rối loạn huyết động) phụ thuộc nhiều đến liều lượng và khối lượng của thuốc tê. Theo Nicolas M [10] “có 25 yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố thuốc tê trong dịch não tuỷ, trong đó 3 yếu tố quan trọng nhất là: tư thế bệnh nhân, tỉ trọng thuốc tê, liều lượng và khối lượng thuốc tê ” 

    Nghiên cứu GTTS với bupivacain 0,5% liều cao (10mg), Tarkkila P đã ghi nhận, thuốc tê phong bế cảm giác đến mức T7, thời gian giảm đau trung bình 114 ± 42 phút [12].

    Nghiên cứu của Casati, Andrea [3] với  bupivacain 0,5% liều 8mg, mức phong bế cảm giác đến T10  sau gây tê 20 phút và thời gian phong bế là 80 phút.

   Theo nghiên cứu của Ben David GTTS bupivacain 0,5% liều 5mg trong phẫu thuật nội soi khớp gối, tỉ lệ thất bại 25% [2]. Nghiên cứu của Jukka V. Valanne với liều Bupivacain 0,5% liều 4mg và 6mg trong phẫu thuật nội soi khớp gối tỉ lệ thất bại 4% [6]

   Nghiên cứu GTTS với bupivacain 0.5% liều thấp (5mg), của chúng tôi ghi nhận mức phong bế cảm giác cao nhất đạt được ở T12, thời gian xuất hiện giảm đau sau khi tiêm thuốc trung bình 12,65 ± 3,99phút và thời gian giảm đau đạt được trung bình 102,23 ± 15,43 phút (bảng 4, 5, 6) với thời gian phẫu thuật trung bình là 47,72 ± 14,89 phút (bảng 9) cho các loại phẫu thuật chủ yếu ở vùng tầng sinh môn và chi dưới. Kết quả đánh giá mức độ giảm đau dựa theo thang điểm Abouleizh ghi nhận: 98,25% trường hợp giảm đau tốt, 2,75% trường hợp giảm đau trung bình phải dùng thêm thuốc giảm đau hoặc thuốc an thần, không có trường hợp nào thất bại phải chuyển sang phương pháp vô cảm khác (bảng 5). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi gần giống kết quả nghiên cứu của Connolly, Mc Leod [4]. Nhưng mức phong bế cảm giác trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn hơn nghiên cứu của Tarkkila P và Casati, Andrea, có lẽ do chúng tôi sử dụng liều thấp và Tarkkila P sử dụng liều cao, hơn nữa khi bơm thuốc tê chúng tôi quay mũi vát kim gây tê về phía xương cùng cụt làm cho thuốc di chuyển xuống vùng thấp hơn và vì bupivacain 0,5% có tỉ trọng cao, thuốc có khuynh hướng cố định nhanh nên mức phong bế cảm giác thấp hơn.

Về tỉ lệ thất bại của chúng tôi hầu như không có so với các nghiên cứu của Ben David (25%), Jukka V. Valanne (4%), có lẽ do các tác giả này thực hiện cho các loại phẫu thuật ở vị trí cao của chi dưới và thời gian phẫu thuật kéo dài hơn.

Với kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy GTTS với bupivacain liều thấp đáp ứng được vô cảm tốt cho các phẫu thuật ở vùng tầng sinh môn

4.1.2. Về tác dụng ức chế vận động

            Khi GTTS, thuốc tê phong bế dẫn truyền xung động thần kinh ở tuỷ sống, tuy nhiên mức độ phong bế giữa các sợi thần kinh khác nhau. Sợi thần kinh có đường kính nhỏ bị phong bế trước, sợi có đường kính lớn bị phong bế sau.

Trong một nghiên cứu hồi cứu của P. Tarkkila [12] khi GTTS bằng bupivacain 0,5% liều 10mg và 5mg nhận thấy phong bế vận động ở mức M3 đối với liều 10mg là 54%, và 4% với liều 5mg (p < 0,01). Bệnh nhân có thể đi bộ sớm sau thời gian gây tê 231 phút với liều 10mg và 161 phút đối với liều 5mg, (p < 0,05). Nghiên cứu của Ben David [1] với liều thuốc tê 5mg có 86,67% bệnh nhân liệt vận động ở mức M0, M1, nhưng với liều bupivacain 7,5mg sẽ phong bế vận động ở mức M2, M3.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đánh giá mức độ liệt vận động theo thang điểm Bromage ghi nhận: 91,23% bệnh nhân không liệt (M0), 8,77% bệnh nhân liệt ở mức M1, không có bệnh nhân nào liệt ở mức độ M2, M3. Sau phẫu thuật bệnh nhân đều có thể vận động sớm. Với kết quả nghiên cứu của chúng tôi so sánh với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác như đã trình bày ở trên, cho thấy GTTS bằng Bupivacain 0,5% liều thấp thì mức độ phong bế vận động ít hơn.

4.2. Về ảnh hưởng trên huyết động

Trong GTTS đối với hệ thần kinh thực vật, các sợi dẫn truyền là các sợi có đường kính nhỏ nên dễ bị phong bế, do vậy mức phong bế thần kinh thực vật thường cao hơn 2-3 khoanh tuỷ so với mức phong bế cảm giác và vận động [11]. Khi gây tê tuỷ sống liều cao các sợi thần kinh hệ giao cảm xuất phát từ đốt tuỷ sống T1-L2, dễ bị ức chế, tác dụng này làm giảm co bóp cơ tim, giãn mạch gây mạch chậm, tụt huyết áp. Đây chính là nguyên nhân gây ra rối loạn huyết động khi GTTS.

Nghiên cứu của Morgan, Emmet [5], [9] vào các năm 1995 và 2001 đã ghi nhận tác dụng hạ huyết áp do ức chế thần kinh giao cảm rất hay gặp, và khuyến cáo “để đề phòng tụt huyết áp nên truyền dung dịch tinh thể trước khi gây tê và dự phòng bằng sử dụng ephedrin sau gây tê”. Nghiên cứu của Ben David [2] và cộng sự ghi nhận với bupivacain liều 10mg có đến 90% bệnh nhân tụt huyết áp, lượng Ephedrin cần thiết để nâng huyết áp là 32 ± 17mg, dịch truyền trong mổ cao: 1150 ± 337ml. Nghiên cứu của Miller cũng sử dụng bupivacain liều 10mg ghi nhận kết qủa 94% bệnh nhân tụt huyết áp. Nghiên cứu của Gihan (năm 2002) với bupivacain 10mg kết quả 80% bệnh nhân tụt huyết áp. Olsen và Racle [8] năm 1990 đã sử dụng bupivacain để gây tê tuỷ sống nhận thấy tác dụng giảm đau rất tốt nhưng hạ huyết áp rất hay gặp. Labaille T, Benhamou [8] đã nghiên cứu GTTS với Bupivacain liều 15mg cho thấy mức độ tụt huyết áp tâm thu là 27,5 ± 12% ở 77% bệnh nhân, 54% bệnh nhân phải dùng Ephedrin với liều 10,6 ± 11mg và ông đã kết luận rằng: “Bupivacain liều thấp gây phong bế cảm giác và thần kinh giao cảm thấp hơn nên ít làm giảm huyết áp động mạch hơn. Nghiên cứu của Connolly, Mc Leod [4] cũng ghi nhận sử dụng Bupivacain 5mg rất ít gây hạ huyết áp. Ngoài ra Kelly [7] trong nghiên cứu của mình đã kết luận rằng tỉ lệ hạ huyết áp giảm đi khi GTTS với Bupivacain liều thấp.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận giá trị trung bình các tham số về tần số tim ở thời điểm T10 đến T30 thay đổi có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) theo hướng giảm xuống (bảng 7,8) nhưng chưa biểu hiện nhịp tim chậm, kết quả này cho thấy sau thời gian khởi phát tác dụng, tác dụng giảm đau đã có hiệu quả nên ổn định nhịp tim hơn. Về kết quả các giá trị huyết áp động mạch tâm thu, trung bình, huyết áp tâm trương không thay đổi nhiều ở các thời điểm nghiên cứu (p ≥ 0,05, bảng 7,8). Trong thời gian phẫu thuật và sau gây tê gần 2giờ chúng tôi ghi nhận không có bệnh nhân nào tụt huyết áp mà phải dùng Ephedrin để nâng huyết áp và số lượng dịch truyền trong mổ chỉ sử dụng rất thấp trung bình 329,82 ± 123,15ml ( bảng 9).

Như vậy kỹ thuật GTTS bằng bupivacain 0,5% liều thấp có thể áp dụng để vô cảm cho phẫu thuật các bệnh lý ngoại khoa ở vùng thấp trên những bệnh nhân có bênh lý tim mạch và hô hấp kèm theo đã điều trị ổn định .

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu trên 57 bệnh nhân được chỉ định phẫu thuật các bệnh lý ngoại khoa vùng tầng sinh môn và chi dưới bằng kỹ thuật gây tê tuỷ sống liều thấp (5mg) của bupivacain 0,5% tỉ trọng cao, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

1. Thời gian xuất hiện giảm đau ở mức T12 là 12,65 ± 3,99 phút. Thời gian giảm đau sau gây tê từ mức T12 trở xuống là 102,23 ± 15,43 phút. Mức độ giảm đau trong mổ được đánh giá dựa theo thang điểm Abouleizh cho kết quả tốt 98,25%. Với kết quả này cho thấy kỹ thuật gây tê tuỷ sống với thuốc tê liều thấp, đảm bảo vô cảm tốt cho phẫu thuật các bệnh lý ở vùng thấp (từ nếp bẹn trở xuống) nhất là vùng tầng sinh môn.

2. Gây tê tuỷ sống với bupivacain 0.5% liều 5mg, mức độ phong bế vận động được đánh giá dựa theo thang điểm Bromage cho kết quả: 91,23% bệnh nhân không liệt M0, 8,77% bệnh nhân liệt ở mức độ nhẹ M1, không có bệnh nhân nào liệt ở mức độ M2, M3. Kết quả này cho thấy gây tê tuỷ sống với thuốc tê liều thấp hạn chế được ức chế vận động, tạo điều kiện tốt phục hồi vận động sớm sau phẫu thuật và bệnh nhân có thể sớm trở lại hoạt động bình thường .

3. Gây tê tuỷ sống liều thấp bupivacain 0,5% (5mg), ghi nhận trong quá trình phẫu thuật luôn duy trì huyết động ổn định, số lượng dịch truyền trong mổ ít (329,82 ± 123,15ml), không có trường hợp nào phải dùng ephedrin để nâng huyết áp. Với kết quả này cho thấy kỹ thuật gây tê tuỷ sống với thuốc tê liều thấp ít ức chế thần kinh giao cảm, ít gây biến chứng tụt huyết áp và hạn chế sử dụng dịch truyền và thuốc vận mạch, vì thế có thể ứng dụng cho các trường hợp can thiệp ngoại khoa ở vùng thấp (dưới nếp lằn bẹn, nhất là ở vùng tầng sinh môn), đặc biệt có thể ứng dụng trên những bệnh nhân có bệnh lý tim mạch và hô hấp kèm theo đã điều trị ổn định.

4. Gây tê tuỷ sống với thuốc tê liều thấp vẫn đảm bảo vô cảm cho phẫu thuật nhưng tiết kiệm được thuốc tê, rất có lợi về khía cạnh kinh tế.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Ben-David, Bruce, Levin (1996). “Spinal Bupivacaine in Ambulatory surgery: The effect of Saline dilution”. Anesth Analg, 83 (4), 716-720.
  2. Ben-David, Bruce. (2000). “Minidose Bupivacaine - Fentanyl Spinal Anesthesia for surgical Repair of Hip Fracture in the Ages”. Anesthesiology, 92, pp. 6-10.
  3. Casati, Andrea. (1998). “Low dose hyperbaric bupivacaine for unilateral spinal anaesthesia”. Canadian Journal of Anesthesia, volume 45, pp. 850-854.
  4. Connolly.C, Mc Leod GA, Wildsmith JA. (2001) “Spinal anaesthesia for cesarean section with Bupivacain 5mg/1ml”. Br J anaesth, 86 (6), pp. 805-807.
  5. Emmett RS, Cyna AM, Andrew M, Simmon SM. (2001) “Technique for preventing hypotension during spinal anaesthesia for cesarean section”. The Cochrane Library. ISSN, pp. 1464- 1780.
  6. Jukka V.Valanne. (2001). “Selective spinal Anesthesia: A comparison of Hyperbaric Bupivacaine 4mg versus 6 mg for out patient knee Arthroscopy”. Anesth Analg; 93, pp.1377-1379.
  7. Kelly MC, Carabin UA, Mira Khur RK (1998). “Intrathecal diamorphin of analgesia after caesarien section. A dose finding study and assessment of side effects”. Anaesthesia.53(3): 231-237
  8. Labaille T, Benhamou D, Westermann J. “Spinal anaesthesia with low-dose Bupivacaine: Good analgesia and haemodynamic stability”. Reg Anesth 1992,17, pp.193-196.
  9. Morgan P (1995) “Spinal anaesthesia in obsterics” Canadias Journal of anaesthesia, 42, pp. 1145- 63.
  10. Nicolas M, Greene MD. (1985) “Distribution of local anesthetic solution within the subarachnoid space”. Anesth - Analg 64, pp. 715-30.
  11. Pillip O, Bridenbaugh (1992). Spinal, subarachnoid neuroblockade,  pp. 146-74.
  12. Tarkkila P. , J.Huhtala. (1997) “Home-readiness after spinal anaesthesia with small dose of hyperbaric 0,5% Bupivacaine” Anesthesia, 52, pp.1157-1160.

Trở về  Bản In   
   
 


Copyright 2004 VSA
All rights reserved.
This website is sponsored by Organon Vietnam